Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Kiến thức bảo dưỡng Sửa chữa cụm xupáp

Kiến thức bảo dưỡng Sửa chữa cụm xupáp


1. Hiện tượng hư hỏng :
- Tụt áp suất trong buồng đốt.
- Động cơ khó nổ.
- Có tiếng gõ khi động cơ làm việc.
2. Nguyên nhân hư hỏng :
- Xupáp bị kênh , kẹt
- Thân xupáp bị cong, mòn, cặn bẩn bám vào...
- Miệng ,bệ xupáp bị mòn , cháy rỗ bề mặt làm việc.
- Lò xo xupáp mất đàn tính, cong vênh, gãy…
- Ong dẫn hưóng xupáp bị mòn.
3. Phương pháp kiểm tra :
A) Kiểm tra độ kín xupáp và bệ xupáp:
- Dùng bút chì mềm vạch các đường cách đều nhau (12 – 16 đường thẳng đứng
)trên mặt vát của xupáp , lắp xupáp vào bệ xupáp và gõ nhẹ mấy cái , lấy ra kiểm tra
vết chì , nếu các vết chì đều bị cắt đứt thì chứng tỏ xupáp ấy kín . Cũng có thể bôi bột
đỏ lên mặt vát , rồi lắp xupáp vào bệ xupáp và quay ¼ vòng , nếu trên mặt vát của
xupáp đều có vết đỏ một cách đều đặn thì chứng tỏ xupáp ấy kín .
[​IMG]
Hình 1 : thử độ kín xupáp băng dầu.
Lắp xupáp vào sau đó cho dầu hoả vào các ống hút và xả , nếu 5 – 10 phút ỗ giữa
mặt tiếp xúc của xupáp không bị rò dầu hoặc thấm dầu chứng tỏ độ kín của xupáp ấy
đạt yêu cầu .
Lắp xupáp vào sau đó cho dầu hoả vào các ống hút và xả , nếu 5 – 10 phút ỗ giữa
mặt tiếp xúc của xupáp không bị rò dầu hoặc thấm dầu chứng tỏ độ kín của xupáp ấy
đạt yêu cầu .
[​IMG]

- Dùng không khí nén kiểm tra độ nén của xupáp ( hình 1), lắp buồng không khí
của máy vào bệ xupáp , sau đó bóp bóng cao su để tạo nên áp suất 0,6 –0,7 kg/cm ở
trong buồng không khí , nếu sau một nửa giờ mà trị số áp lực chỉ trên đồng hồ không
giảm xuống là đạt yêu cầu .
b) Kiểm tra xupáp và bệ xupáp .
[​IMG]
Xupáp được đặt trên khối v dài của đồ gá và kẹp bằng các lò so lá, đuôi xupáp
luôn tì vào viên bi trong tấm cữ 5 để cố định vị trí dọc trục. Đồng hồ so 7 tì vào bề
mặt làm việc của tán xupáp, đồng hồ so 6 tì vào điểm giữa thân. Khi quay xupáp 1 vòng, sự dao động của kim các đồng hồ so thể hiện độ cong thân hoặc vuông (hoặc
không đồng tâm) không được vượt quá 0,025mm.
Xupáp phải loại bỏ nếu độ mòn thân ≥ 0,1 mm, bề dày tán nấm ≤ 0,5 mm, hoặc
phải nắn lại nếu độ cong thân ≥ 0,03 mm.
- Kiểm tra mặt làm việc của xupáp nếu có các điểm rỗ nghiêm trọng, cháy và bị
lõm thì phải mài bóng , sau khi mài chiều dày của mép tán xupáp không nhỏ hơn
0,30mm.
- Kiểm tra mặt làm việc của bệ xupáp , nếu có các điểm rỗ nghiêm trọng , bị cháy
hỏng và chiều rộng mặt tiêp xúc vượt quá 2mm thì phải mài bóng . Nếu bệ xupáp có
vết nứt hoặc tiếp xúc lõm xuống thấp hơn bệ xupáp 2mm thì phải thay vòng bệ xupáp .
C) kiểm tra lò xo xupáp .
[​IMG]
Hình 3 : kiểm tra độ cong của lo xo xu páp
Dùng thước góc 90 kiểm tra lò xo xupáp ( hình 3 ) nếu cong quá 2 thì phải thay
dùng thước lá đo chiều dài lò xo, nếu bị ngắn quá 3mm thì phải thay . Lò xo bị gãy ,
sức đàn hồi kém ( kiểm tra bằng máy kiểm tra lò xo ) đều phải thay .
D) kiểm tra ống dẫn xupáp
Kiểm tra độ mài mòn của ống dẫn xupáp , dùng cán xupáp mới cắm vào ống dẫn,
cho tán xupáp cao hơn mặt phẳng thân máy khoảng 9mm , dùng đầu tiếp xúc của đồng
hồ so chạm vào mép xupáp , rồi lắc tán xupáp ( hình 4 ), nếu khe hở xupáp nạp vượt
quá 0,25mm, xupáp xả vượt quá 0,30mm thì phải thay ống dẫn xupáp
[​IMG]
Hình 4 : kiểm tra sự mài mòn của ống dẫn xupáp.
4. Phương pháp sửa chữa :
4.1. Sửa chữa xupáp và đế xupáp:
- Mài bề măt làm việc xupáp trên thiết bị mài chuyên dùng:
Thiết bị gồm một đầu độc lập dẫn động xupáp được gắn trên bàn chạy ngang, bàn
này lại được đặt trên bàn chạy dọc của thiết bị. Đầu dẫn động kẹp chặt xupáp bằng
các côn kẹp đàn hồi và được đánh lệch một góc bằng góc nghiêng của bề mặt làm việc
xupáp, cùng với việc phối hợp hai bàn chạy cho phép điều chỉnh bề mặt cần mài của
xupáp tiếp xúc với đá mài một cách chính xác.
Đá mài được điều chỉnh tịnh tiến dọc trục để mài hết bề mặt xupáp. Hành trình
chuyển động tịnh tiến của đá có thể điều khiển tự dộng hoặc bằng tay.
Kinh nghiệm cho thấy nếu góc nghiêng xupáp được mài nhỏ hơn quy định khoảng
½0 ÷1/30 thì khi rà xupáp với đế sẽ mau kín khít.
Xupáp được mài hết vết rỗ, lõm trên bề mặt thì thôi, ở giai đoạn cuối không điều
chỉnh đá song vẫn cho đá mài làm việc đến khi không còn tia lửa mới ngừng đá, làm
như vậy bề mặt mài sẽ có độ bóng cao hơn.
- Mài đế xupáp:
Để khắc phục tình trạng mòn rộng ổ đế xupáp cần phải doa các góc kề hai phía của
bề mặt làm việc xupáp một cách hợp lý (góc 150 – 750 hoặc 300 – 600), do đó sẽ điều
chỉnh được bề rộng mặt đế phù hợp (1,7 ÷ 2 mm) và nằm lọt vào vùng giữa của bề mặt
tán xupáp (nếu đế thiết kế mềm hơn xupáp) hoặc xupáp nằm lọt trong đế (khi đế cứng
hơn xupáp). Hình 5 giới thiệu sơ đồ xác định các góc đế cần mài theo đường kính của
bề mặt làm việc xupáp.
[​IMG]
Hình 5 . Kiểm tra kích thước khi doa các góc trên đế xupáp.
Bộ dao doa hay đá mài được chế tạo định hình có góc nghiêng và đường kính phù
hợp với các kích thước xupáp khác nhau. Trình tự cắt các góc đế là: 300 (450) – 150 -
750- 300 (450). Như vậy bề mặt làm việc được cắt đầu tiên và sửa lần cuối để khử hết
các ba via do bước gia công trước để lại (hình 6).
[​IMG]
Hình : 6 . Trình tự mài các góc đế xupáp, thứ tự mài từ trái sang phải:
- mài góc 450 độ - mài góc 150 độ - mài góc 750độ - mài góc 450 độ
Có thể mài đế bằng thiết bị mài cầm tay hoặc cắt bằng thiết bị doa cầm tay, trong
cả hai trường hợp đều sử dụng lỗ ống dẫn hướng xupáp để lồng trục định vị đá mài
hay đầu dao doa. Hình 7 giới thiệu thiết bị mài đế cầm tay được sử dụng phổ biến
trong các ga ra sửa chữa.
[​IMG]
Hình 7 . Thiết bị mài đế xupáp.
1- trục định vị đá ; 2- bánh vít; 3- trục vít; 4- bánh răng thứ cấp hộp số; 5- bánh răng
sơ cấp hộp số; 6- trục rô to động cơ điện; 7- vít điều chỉnh; 8- bạc ống; 9- thnh ngàm;
10- phớt; 11- vơ đầu dẫn động; 12- thanh tỳ; 13- đầu kẹp; 14 dao doa lỗ đế; 15- ống
dẫn hướng.
[​IMG]
Hình 8 . Ràxupáp bằng tay
- Rà xupáp và đế:
- Sau khi cả xupáp và đế đã được mài hết các chỗ mòn, cần phải thực hiện rà
chúng với nhau nhằm bảo đảm độ kín khít. Rà xupáp được htực hiện bằng tay hoặc
bằng thiết bị rà. Lồng xuống phía dưới mỗi xupáp một lò so nhẹ đề nâng xupáp cách
mặt đế 5 ÷10mm, đầu dẫn động xupáp trên máy rà có gờ ăn khớp với rãnh xẻ trên bề
mặt tán nấm đã được làm sẵn cho mục đích này, nếu không có rãnh, phải khoan hai lỗ
nông trên mặt nấm để dẫn động. Khi rà bằng tay có thể dùng chụp cao su hay dùng đầu
vặn quay tay như hình 8.
Khi rà, đầu rà sẽ thực hiện hai chuyển động: xoay một góc 450 ÷ 600 và đập xupáp
xuống mặt đế. Bề mặt xupáp được bôi lớp bột rà nhão có độ hạt 30μ cho rà thô và loại
có độ hạt 20μ cho rà tinh. Để tránh bột rà không lọt xuống thân xupáp gây mòn, có thể
dùng một chụp cao su ôm khít thân xupáp và phủ lên đầu ống dẫn hướng.
Trong các xí nghiệp sửa chữa, để bảo đảm năng suất thường sử dụng thiết bị rà
bằng máy, cho phép rà đồng thời cả loạt xupáp của một động cơ. Đầu dẫn động có lưỡi
thép được cài vào rãnh phay sẵn trên đỉnh tán nấm phục vụ cho mục đích này. Trong
trường hợp không có sẵn rãnh, phải khoan 2 lỗ nông có đường kính từ 4 ÷ 6mm trên
đỉnh xupáp và chế tạo đầu dẫn động phù hợp. Thiết bị rà xupáp thể hiện trên hình 9
[​IMG]
Hình 9 . Máy rà xupáp.
1- bàn máy; 2- nắp quy lát; 3-cần dẫn động; 4- đầu dẫn động xupáp;
5- mô tơ truyền động; 6- xupáp được rà.
C). Yêu cầu kỹ thuật sau khi sửa chữa xupáp
Thân xupáp cho phép cong không quá 0.02- 0,05 mm
Đường tâm của mặt vát phải trùng với đường tâm của thân xupáp ,cho phép lệch
không quá 0.03 mm.
Độ côn và ôvan của xupáp cho phép không quá 0.01 – 0,03 mm
Độ bóng bề mặt vát phải đạt 8.
Khi rà xong mặt tiếp xúc giữa xupáp và bệ xupáp phải có độ rộng trong phạm vi
1,5 –2mm.
Khe hở giữa thân xupáp và ống dẫn phải nằm trong phạm vi :xupáp hút 0,05 –
0,08mm, tối đa 0,22mm; xupáp xả 0,08 – 0,10mm, tối đa 0,25mm.
4.2 . Ep vòng bệ xupáp
Bệ xupáp sau nhiều lần doa , đường kính của nó sẽ to lên , làm cho xupáp lọt
xuống . Nếu lọt xuống sâu quá mức quy định thì phải dùng phương pháp ép vòng để
sữa chữa .những bệ xupáp có vòng thì có thể lấy vòng cũ ra, ép vòng mới vào. Những
bệ xupáp không có vòng thì đặt nắp xilanh lên máy khoan hoặc máy chuyên dùng để
doa lỗ bệ có đáy bằng , rồi căn cứ vào kich thước của lỗ đó để gia công vòng bệ , vòng
bệ thường chế tạo bằng gang xám , tuỳ theo độ ôvan của lỗ khác nhau mà xác định
kích thước và độ dôi của nó (bảng duới đây)
[​IMG]
Yêu cầu kỹ thuật về ép vòng bệ xupáp

Có hai cách ép vòng là ép nguội và ép nóng :khi ép nguội,dùng máy ép hoặc
dùng búa tay trực tiếp đóng vào qua một đầu đột.khi ép nóng thì ra nhiệt toàn bộ nắp
xilanh (cho vào dầu để đun ) đến 200 –3000c, rồi cho vòng vào lỗ để nó tự nguội dần .
Chú ý : khi độ nhẵn bóng của lỗ giảm thấp phải tăng độ chặt lên. Chiều cao của
vòng phải thấp hơn chiều sâu của lỗ 2,0 – 2,5mm. Để cho vòng sau khi ép vào không
bị rơi ra, đường kính ở phần đáy của lỗ phải lớn hơn đường kính miệng trên 0,05mm,
vòng trong của mặt phẳng đáy lỗ phải cao hơn vòng ngoài 0,05mm ( tức có độ dốc ) để
khi ép vào vòng sẽ tiếp xúc trước với vòng trong của mặt phẳng đáy lỗ, ngăn chặn hơi
thừa chạy vào giữa lỗ và vòng . Sau khi ép xong vòng , vẫn phải dùng dao doa hoặc đá
mài mài láng bệ xupáp , đồng thời phải rà và lắp thử theo các yêu cầu đã nói trên.
4.3. Sửa chữa ống dẫn xupáp:
Dùng calíp để kiểm tra độ mòn của ống dẫn xupáp , nếu quá 0,05mm thì phải
sữa chữa .
Ong dẫn thường làm bằng gang, khi tháo lắp ống dẫn có thể dùng trục bậc để
đẩy ra hoặc ép vào theo đúng phương của tâm lỗ . Khe hở giữa cán xupáp và ống dẫn
xupáp một số xe như bảng 11 – 4.
Bảng Khe hở giữa cán xupáp và ống dẫn xupáp
[​IMG]
Trước khi ép ống dẫn xupáp vào , cần bôi một lớp dầu nhờn ( hỗn hợp của bột
graphít và dầu máy ) ở ngoài ống dẫn , khi ép vào dùng máy ép thông qua một trục bậc
để ép vào ,độ dôi là 0,02 – 0,03mm. Độ ôvan và độ côn của đường kính trong của ống
dẫn không được lớn hơn 0,03mm. Sau khi ép vào , đỉnh của ống dẫn phải cách mặt
bằng của nắp xilanh bằng trị số quy định ban đầu . Kinh nghiệm cho thấy cách kiểm
tra dộ chính sác về lắp ghép giữa thân xupáp và ống dẫn là:lau sạch thân xupáp và ống
dẫn,sau đó kéo lên kéo suống nhiều lần,khi xupap có thể lọt suống dần dần nhờ trọng
lượng của bản thân nó thì chứng tỏ độ lắp ghép vừa phải. Nếu lắp quá chặt thì có
thể dùng doa doa doa bớt đường kính của ống dẫn.tàm của nỗ dẫn và tâm của bê xupáp
chênh lệch nhau không quá 0,05mm,cho phép trong phạm vi 0,01_0,03mm.
4.4. Sửa chữa lò xo xupáp :
Đối với lò xo xupáp thì chủ yếu là kiểm tra chiều dài tự do và sức căng của nó
thường thường chiều dài tự do không được ngắn quá 3mm, sức căng không được yếu
hơn 1/10 sức căng quy định ban đầu
Khi kiểm tra lò xo , ngoài các thiết bị thử sức căng ra, có thể dùng một lò xo
mới và một lò xo cũ ( lò xo cần kiểm tra lồng vào một bulông, ở giữa và hai đầu dùng
vòng đệm bằng tôn để cách ra , kẹp bulộng lên êtô, vặn chặt đai ốc và quan sát mức độ
co của hai lò xo . Nếu lò xo cũ bị nén xuống trước , thì chứng tỏ lực đàn hồi kém , nói
chung nên thay cái mới, tuy nhiên cũng có thể nhiệt luyện lại để sử dụng . Trường hợp
đặc biệt có thể lắp thêm một tấm đệm có chiều dài nhất định, nhưng không dày quá
2mm.
Lò xo qua một thời gian sử dụng nếu lực đàn hồi vượt quá các giá trị thì phải thay


Nguồn: oto-hui.com


EmoticonEmoticon