Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

Cơ bản về ô tô

Cơ bản về ô tô


Khái niệm về ô tô
Là một trong những phương tiện giao thông đường bộ chủ yếu, thường có 4 bánh, có một động cơ ráp vào xe để cung cấp công suất làm cho chiếc xe di chuyển được. Ô tô có tính cơ động cao và phạm vi hoạt động rộng.

[​IMG]
Kết cấu chung của ô tô
Gồm có 3 phần chính
Động cơ
Hệ thống điện
Hệ thống truyền động

Động cơ
Là nguồn động lực chủ yếu của ô tô

[​IMG]
Hiện nay động cơ ô tô phổ biến nhất là động cơ đốt trong kiểu pittong 4 kỳ, các loại ô tô thông thường trang bị loại động cơ có từ 4, 6 đến 8 xy lanh ... Để động cơ di chuyển liên tục cần có bốn hệ thống hỗ trợ cho nó là:
Hệ thống cung cấp nhiên liệu.

[​IMG]
Gồm các bộ phận để nhiên liệu từ thùng chứa đến nòng xylanh, xăng từ thùng chứa chuyển đến bộ chế hòa khí nhờ bơm xăng, bộ chế hòa khí làm cho xăng bốc thành hơi và trộn lẫn với không khí tạo thành một hỗn hợp cháy để cung cấp cho xy lanh động cơ
Còn đối với động cơ Diesel thì nhiên liệu từ thùng chứa được đưa tới bơm cao áp nhờ bơm tiếp vận sau khi đã đi qua lọc dầu. Từ bơm cao áp dầu diesel được đưa tới kim phun với áp lực lớn để phun vào nòng xylanh.

Hệ thống đánh lửa 

[​IMG]
Hỗn hợp nhiên liệu gồm xăng và không khí đã cung cấp vào xy lanh được piston nén lại với một áp lực và nhiệt độ cao (cuối thì nén), lúc này bugi trong hệ thống đánh lửa sẽ phóng điện đốt cháy hỗn hợp nhiên liệu để sinh công, hệ thống đánh lửa gồm có bình ắc quy, công tắc máy, bôbin, delco, các dây dẫn điện, dây phin và các bugi.

Hệ thống bôi trơn 

[​IMG]
Gồm có lọc nhớt, ống dẫn, bơm nhớt và các bộ phận kiểm soát mạch nhớt
Có nhiệm vụ đưa dầu đến các mặt ma sát, đồng thời lọc sạch những tạp chấ́t lẫn trong dầu nhờn khi dầu nhờn tẩy rửa các mặt ma sát này và làm mát dầu nhờn để đảm bảo tính năng hoá lý của nó.

Hệ thống làm mát 

[​IMG]
Gồm Két nước, Van hằng nhiệt, Bình chứa, Nắp két nước, Quạt làm mát, Bơm nước
Có nhiệm vụ giữ cho động cơ ở nhiệt độ làm việc hiệu quả nhất phù hợp với mọi chế độ tải trọng của động cơ. 


Hệ thống điện 

Hệ thống khởi động (starting system) 
[​IMG]
Có nhiệm vụ khởi động động cơ, nó bao gồm accu, máy khởi động điện (starting motor), các relay điều khiển và relay bảo vệ khởi động. Đối với động cơ diesel có trang bị thêm hệ thống xông máy (Glow system).

Hệ thống cung cấp điện (charging system)

[​IMG]
Có nhiệm vụ cung cấp điện cho các phụ tải điện trên xe cũng như sạc lại cho bình ắc qui khi động cơ đã hoạt động. Nó bao gồm accu, máy phát điện (Alternators), bộ tiết chế điện (voltage regulator), các relay và đèn báo nạp.

Hệ thống đánh lửa (Ignition system)

[​IMG]
Gồm accu, khóa điện (Ignition switch), bộ chia điện (Distributor), biến áp đánh lửa hay bôbin (Igniton coils), hộp điều khiển đánh lửa(Igniter), bugi (Spark plugs).

Hệ thống chiếu ánh sáng và tín hiệu (Lighting ang Signal system)

[​IMG]
Gồm các đèn chiếu sáng, các đèn tín hiệu, còi, các công tắc và các relay.

Hệ thống đo đạc và kiểm tra (gauging system)

[​IMG]
Gồm các đồng hồ trên taplo và các các đèn báo khác

Hệ thống điều khiển động cơ (Engine control system)

[​IMG]
Gồm hệ thống đìêu khiển xăng, lửa ,góc phối cam, ga tự động (cruise control, trên các động cơ diesel ngày nay thường sử dụng hệ thống điều khiển nhiện liệu bằng điện tử (EDC – electronic diesel control hoặc unit pump in line)

Hệ thống điều khiển ô tô

[​IMG]
Gồm hệ thống chống bó phanh ABS (Antilock brake system), hộp số tự động, tay lái, gối hơi (SRS), lực kéo (Traction control).

Hệ thống điều hòa (Air conditioning system)

[​IMG]
Gồm lọc ga (dryer), van tiết lưu (expansion valve), giàn lạnh (Evaporator), giàn nóng (condenser), máy nén (Compressor)
Hệ thống truyền động 
Nhiệm vụ của hệ thống này là đem công suất của động cơ đến các bánh xe phát động để đẩy chiếc xe di chuyển

Các bộ phận gồm có
Bộ ly hợp 

[​IMG]
được đặt giữa động cơ và hộp số

Hộp số 

[​IMG]

Trục truyền động (Láp truyền – cardan)

[​IMG]
Truyền công suất của động cơ từ hộp số đến cầu chủ động làm quay các bánh xe với các góc độ và chiều dài thay đổi tùy theo tình trạng của mặt đường.

Cầu chủ động – bộ vi sai 

[​IMG]
Nhiệm vụ của hệ thống này là:
Thay đổi chiều quay của trục chuyển động với góc độ 900 để điều khiển các bán trục quay nối đến các bánh xe phát động.
Cho phép hai bánh xe sau quay với tốc độ khác nhau khi xe đi qua một khúc quanh.

Sườn xe 

[​IMG]
Được dùng để gắn các hệ thống treo xe và hệ thống nhún – giảm xóc và các bộ phận của động cơ.

Hệ thống treo xe (Nhún giảm xóc)

[​IMG]
Giảm các hiện tượng rung, xóc khi xe di chuyển

Hệ thống lái 

[​IMG]
Hệ thống này cho phép điều khiển hai bánh xe trước quẹo trái hay phải hoặc đi thẳng theo ý muốn.

Hệ thống phanh

[​IMG]
Giúp người lái có thể giảm tốc độ hay ngừng xe khi xe đang chạy

Bánh xe 

[​IMG]
Giúp xe bám vào mặt đường, khiến chiếc xe không bị trượt khi di chuyển 
Phân loại ô tô
Phân loại theo chức năng của ô tô
Ô tô vận tải hàng

Ô tô chuyên dụng như: ô tô cứu thương, ô tô cứu hỏa, ô tô phun nước, ô tô cẩu, ô tô tải chuyên dùng ( ô tô xitéc, ô tô thùng kín, ô tô tự đổ…)

Ô tô chở hành khách, ô tô chuyên chở hành khách bao gồm: ô tô buýt, ô tô taxi, ô tô du lịch, ô tô chở khách liên tỉnh, ô tô chở khách đường dài

Phân loại theo động cơ
Động cơ đốt ngoài ( động cơ hơi nước)

Động cơ đốt trong:
Nhiên liệu dùng xăng, Diesel, khí thiên nhiên (CNG), khí hoá lỏng (LPG)
Động cơ 2 kỳ
Động cơ 4 kỳ

Động cơ 2 kỳ
Động cơ hai kỳ là động cơ mà trong đó 1 chu trình công tác (gồm 4 quá trình: hút, nén, nổ và xả) được hoàn thành trong 2 hành trình piston hoặc trong 1 vòng quay của cốt máy (360 ). Như vậy trong 2 hành trình lên xuống của piston thì có 1 hành trình sinh công. 

[​IMG]
Kỳ thứ nhất, piston chạy xuống
Cháy + giãn nở sinh công
Ép hòa khí ở cạt-te
Thoát khí cháy
Nạp khí nạp mới vào trong xy lanh

Kỳ thứ hai, piston chạy lên

Tiếp tục nạp và thải
Xú-páp nạp đóng, chấm dứt nạp

Xú-páp thoát đóng, chấm dứt thoát
Hút hòa khí (khí nạp mới) vào cạt-te


Động cơ 4 kỳ
Là động cơ mà 1 chu kỳ hoàn thành trong 4 hành trình nạp nén nổ xả.

[​IMG]
Chúc các cụ có một ngày làm việc tốt nhất.


Đọc thêm

Sơ bộ hệ thống đèn liếc(Adaptive-Front light System)

Sơ bộ hệ thống đèn liếc(Adaptive-Front light System)


Về hệ thống này em đăng ít thông tin cho các cụ chém chứ em cũng chưa tìm hiểu rõ được về mạch điện. Cụ nào cao thủ điện tử vào chém tí để em hiểu thêm
Về hệ thống này cơ bản được chia làm 2 loại gồm đèn liếc tĩnh và đèn liếc động
Khái niệm: Đèn liếc tĩnh hiểu đơn giản như nó là 1 đèn được lắp phụ thêm bên đèn cốt. Có 3 yếu tố để quyết định việc tắt mở của chiếc đèn liếc này và đảm bảo rằng , đèn này chỉ được kích hoạt khi vào cua gấp hoặc rẽ phải hay rẽ trái , ba yếu tố đó là : 
-Tốc độ xe chạy 
-Góc đánh tay lái 
-Tình trạng của đèn xi nhan ( bật hoặc tắt ) .
Như vậy khi xe chạy nhanh và chuyển làn xe, đèn liếc không được kích hoạt , dù rằng người lái có bật xi nhan theo hướng mong muốn . Chỉ khi góc đánh tay lái đủ lớn , tốc độ không nhanh quá cộng với việc đèn xi nhan được bật thì hệ thống này mới hoạt động.
[​IMG]
Sự khác nhau khi không và có sử dụng đèn liếc tĩnh​
Cấu tạo: Gồm 2 đèn chiếu sáng góc cua bố trí cạnh đèn cốt
Bộ điều khiển trung tâm và các cảm biến
[​IMG]
Hệ thống này được điều khiển bởi bộ xử lý trung tâm nhờ các tín hiệu từ cảm biến góc đánh lái, cảm biến tốc độ và tín hiệu đèn xi nhan để bật đèn góc cua bổ sung cho đèn cốt. Cụ thể khi xe bật xi nhan và tốc độ xe dưới 40km/h,bộ điều khiển trung tâm sẽ điều khiển hoạt động của đèn liếc tĩnh. Bộ điều khiển liên tục nhận tín hiệu từ cảm biến để điều chỉnh cường độ và vùng chiếu sáng phù hợp với điều kiện đường xá.
Đèn liếc động: Chỉ sử dụng nguồn sáng từ đèn cốt mà không sử dụng đèn phụ. 
Phương thức hoạt động của loại đèn liếc này là cơ cấu lắc ngang và lên xuống của ống đèn chiếu , nhờ cách này , khi vào cua gấp , nguồn ánh sáng chính chuyển hướng kịp thời và nâng cao tầm xa tới 150% so với phương thức cũ.
[​IMG]
Việc điều khiển vùng chiếu sáng được dựa trên 2 cảm biến vị trí góc lái và cảm biến tốc độ
Cấu tạo : Gồm 2 mô tơ để thay đổi góc chiếu sáng của đèn cốt
Bộ điều khiển trung tâm và các cảm biến
[​IMG]
[​IMG]
[​IMG]


Đọc thêm

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Động cơ xăng không sử dụng bugi (HCCI) trên ô tô

Động cơ xăng không sử dụng bugi (HCCI) trên ô tô


Mặc dù là động cơ xăng nhưng HCCI (Homogeneous Charge Compression Ignition) không sử dụng bugi để đánh lửa mà nén hỗn hợp không khí và nhiên liệu đến áp suất cao để tự bốc cháy giống như động cơ Diesel mà không sợ hiện tượng kích nổ. Điểm khác biệt của động cơ HCCI so với các động cơ xăng có lẽ là nguyên lý hòa trộn và cháy đồng đều tại mọi điểm bên trong buồng đốt không giống như nguyên tắc lan truyền ngọn lửa trên các động cơ xăng thông thường. Điều này sẽ giúp tránh được hiện tượng kích nổ do tự hỗn hợp xăng và nhiên liệu tự bốc cháy và tạo ra sóng lan truyền từ bugi.
[​IMG]
HCCI: Động cơ xăng không cần bu-gi
[​IMG]
Để vận hành được động cơ HCCI thì nhiệt độ của buồng đốt đóng vai trò rất quan trọng. hỗn hợp xăng và nhiên liệu chỉ có thể tự bốc cháy khi buồng cháy được làm nóng nhất định, do đó động cơ sẽ sử dụng buji đánh lửa để khởi động động cơ, khi nhiệt độ bên trong xilanh đã được làm ấm lên thì mới vận hành được chế độ HCCI. Trong chế độ HCCI hỗn hợp hòa trộn nhiên liệu và không khí rất loãng do đó động cơ làm việc ở chế độ hỗn hợp nhiên liệu nghèo nhờ vậy động cơ có thể đạt được hiệu quả như động cơ Diesel và giảm được hàm lượng CO2 trong khí thải.

Thử thách lớn nhất của động cơ này là điều khiển quá trình cháy của HCCI. Với động cơ sử dụng bugi có thể dễ dàng điều khiển thời điểm đánh lửa nhưng với sự cháy của HCCI cần phải thay đổi thành phần của hỗn hợp và nhiệt độ đồng thời kết hợp với thời điểm phun để có thể đạt được hiệu quả cao nhất và tránh được hiện tượng kích nổ. Công nghệ HCCI đang rất được các nhà sản xuất ô tô quan tâm vì đây là sự kết hợp những công nghệ ưu việt nhất của ngành động cơ đốt trong hiện nay như: sử dụng phun nhiên liệu trực tiếp, điều khiển cam bằng điện tử và điều khiển khoảng nâng của cam theo áp suất bên trong xilanh. Mặc dù vậy, những nghiên cứu mới chỉ cho phép động cơ tự bốc cháy ở chế độ tải trọng thấp, khi làm việc với công suất lớn thì chế độ HCCI sẽ không đáp ứng được và động cơ vẫn phải trở về chế độ đánh lửa bằng bugi như động cơ thông thường.

[​IMG]
Trên hai mẫu xe hai xe 2007 Saturn Aura và Opel Vectra đều được trang bị động cơ 2.2L Ecotec với công suất 180 Hp (134Kw) và mômen xoắn cực đại lên tới 230 Nm, hệ thống phun nhiên liệu trực tiếp đặt tại trung tâm, trục cam kép được điều khiển điện tử để điều khiển đóng mở xupap theo nhiều chế độ. Thiết bị quan trọng nhất là bộ điều khiển rất phức tạp có khả năng phân tích các dữ liệu từ cảm biến đo áp suất bên trong xilanh để vận hành quá trình cháy HCCI và chuyển đổi giữa chế độ cháy HCCI và chế độ cháy sử dụng buji đánh lửa.

Những thử ngiệm của GM trên 2 mẫu xe Saturn Aura và Opel Vectra vào năm 2007 đã cho thấy khi vận hành ở chế độ HCCI nó có thể đạt tốc độ tối đa lên tới 88 km/h, còn khi chiếc xe chạy ở tốc độ cao hơn thì động cơ sẽ chuyển sang chế độ sử dụng buji như trên các động cơ xăng thông thường. Và các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục nghiên cứu để nâng cao phạm vi sử dụng chế độ HCCI.

[​IMG]
Những điểm nổi bật của công nghệ HCCI:

Hiệu quả động cơ giống như động cơ Diesel nhưng lại giảm được chi phí dành cho xử lý khí thải.
Sử dụng công nghệ phun nhiên liệu trực tiếp và cơ cấu phối khí thông minh (variabe valve).
Tiết kiệm nhiên liệu khoảng 15% so với động cơ xăng thông thường.
Ngoài động cơ xăng còn có thể sử dụng cho động cơ sử dụng nhiên liệu hỗn hợp E85.
Sẵn sàng lắp đặt HCCI cho động cơ xăng đang sử dụng.
Còn nhiều điểm nổi bật khác nữa.

Chúc các cụ có một ngày làm việc tốt nhất ạ.

Đọc thêm

Các hư hỏng của hệ thống điều hòa trên ô tô

Các hư hỏng của hệ thống điều hòa trên ô tô


Các mẫu xe ô tô hiện nay hầu như đều được trang bị hệ thống điều hòa trên xe, vì nếu trong những ngày thời tiết nắng nóng mà xe không được trang bị điều hòa hoặc điều hòa bị trục trặc thì chắc hẳn sẽ gây khó chịu khi ngồi trong xe.

[​IMG]

Một số bộ phận của hệ thống điều hòa

Giàn nóng

[​IMG]

Gồm các ống và cánh tản nhiệt, và được lắp phía trước của két nước.
Giàn nóng dùng một quạt để làm giảm nhiệt độ cao, áp suất cao của môi chất lạnh được nén bởi máy nén.
Giàn nóng có nhiệm vụ chuyển đổi môi chất lạnh dạng hơi thành môi chất lạnh dạng chất lỏng có nhiệt độ cao, áp suất cao(lẫn cả gas dạng hơi và dạng lỏng).

Giàn lạnh

[​IMG]
Có nhiệm vụ làm bay hơi môi chất lạnh dạng hơi sương với nhiệt độ thấp và áp suất thấp đã được cung cấp bởi van tiết lưu, do đó nó sẽ hấp thụ nhiệt của không khí xung quanh

Van tiết lưu

[​IMG]
Có 2 nhiệm vụ:
Sau khi đi qua bình chứa, môi chất lạnh dạng lỏng với nhiệt độ cao, áp suất cao sẽ được phun qua các lỗ nhỏ trong van tiết lưu. Kết quả là sau khi qua van tiết lưu, môi chất lạnh sẽ có nhiệt độ thấp và áp suất thấp.
Van tiết lưu sẽ điều chỉnh lượng môi chất lạnh được phun và Giàn lạnh, tùy thuộc vào nhiệt độ trong xe

Máy nén 

[​IMG]
Có nhiệm vụ nén gas lạnh từ áp suất thấp trong dàn lạnh lên áp suất cao trong dàn nóng, được dẫn động bằng dây đai từ động cơ và ly hợp từ.

Nguyên lí hoạt động của hệ thống điều hòa

[​IMG]
Máy nén được nối với động cơ thông qua dây cua-roa, hút chất làm lạnh ở thể khí (từ bình chứa gas) rồi nén ở áp suất cao. Khi bị nén, nhiệt độ chất làm lạnh tăng lên và nó được đẩy sang giàn nóng, nằm ở vị trí phía đầu xe, gần lưới tản nhiệt và có quạt riêng. Ở giàn nóng, do được tản nhiệt ở áp suất cao nên chất làm lạnh hóa thành thể lỏng và chuyển sang van giãn nở (hoặc van tiết lưu).Tại van tiết lưu, áp suất giảm đột ngột nên chất làm lạnh hóa hơi và chuyển tới giàn lạnh. Ở đây, nó lấy nhiệt từ môi trường xung quanh và khiến nhiệt độ giảm xuống. Hơi lạnh sẽ được quạt gió thổi ra môi trường, gió thổi từ giàn lạnh có thể là gió ngoài (làm lạnh ngoài), gió trong ca-bin hoặc cả hai.
Những tác động tác động ngoài môi trường làm ảnh hưởng đến điều hòa
Chất ẩm ướt, bụi bẩn, không khí, cao su, mảnh vỡ kim loại và dầu bôi trơn không đúng loại gây tắc nghẽn, hình thành axít và làm giảm hiệu suất làm lạnh của điều hòa.
Một số hư hỏng chính của điều hòa

[​IMG]

Điều hòa hoạt động bình thường nhưng không ra khí lạnh hoặc lạnh rất yếu
Nguyên nhân đầu tiên là bộ lọc gió trên dàn lạnh sử dụng lâu ngày bụi bẩn bám vào lưới lọc làm cản trở gió vào trong cabin xe, cần kiểm tra và vệ sinh lưới lọc.

Nguyên nhân tiếp theo là do dàn nóng hoặc dàn lạnh
Kết cấu của dàn nóng gồm máy nén và quạt, nó có chức năng là tản nhiệt vì vậy khi các bộ phận trong dàn nóng bị bụi bẩn thì hiệu suất tản nhiệt kém và gas làm mát cũng ảnh hưởng theo.
Kết cấu của dàn lạnh gồm board điều khiển và quạt, chức năng là thổi gió lạnh ra cabin xe vì vậy khi các bộ phận trong dàn lạnh bị bẩn thì hiệu suất làm mát cũng ảnh hưởng theo.
Cần vệ sinh dàn lạnh và dàn nóng, nếu vệ sinh mà vẫn không có kết quả, nên nghĩ đến nguyên nhân thiếu môi chất làm lạnh hoặc doăng cao su bị hở

Máy nén ( lốc nén) bị hỏng, các nguyên nhân gây hỏng như nạp ga lạnh “ giả “ rẻ tiền, không đúng chủng loại, chất lượng; lẫn lộn nhiều loại ga khác nhau, luôn phải làm việc ở chế độ tải lớn, dầu bôi trơn cho lốc nén thiếu , không được làm mát tốt..., cần kiểm tra dây curoa nối máy nén với động cơ khi máy nén có hiện tượng, trường hợp máy nén hư hỏng quá cần thay mới.

Điều hòa bốc mùi khó chịu
Nguyên nhân do bụi bẩn trên lưới lọc, quạt gió và thói quen hút thuốc lá, ăn uống trong xe hoặc mồ hôi bám khắp nơi, cần tiến hành vệ sinh lưới lọc và cabin

Nên bật công tắc A/C khi xe đã khởi động máy và tắt đi trước khi ngắt động cơ nếu không sẽ gây hư hỏng bình điện.

Nên kiểm tra và đóng kín cửa khi bật điều hòa và không nên bật chế độ làm lạnh cao ngay khi xe vừa di chuyển nếu không sẽ gây lãng phí nhiên liệu và lãng phí hơi lạnh ra bên ngoài

Cần chỉnh nhiệt độ điều hòa hợp lý nhất so với nhiệt độ hiện tại bên ngoài.

Chúc các cụ có một ngày làm việc tốt nhất. 

Đọc thêm

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016

Hệ thống gạt mưa P2

Hệ thống gạt mưa P2


Ở phần trước em đã nói về sơ đồ rồi. Giờ em đi vào chi tiết hơn xíu.Cũng có thể cách làm của em có sai sót các cụ cứ nhiệt tình ném đá để em còn học hỏi.
Cách xác định cụm công tắc điều khiển là loại âm chờ hay dương chờ :

- Để chế độ Phun nước: đo được 2 dây thông nhau là W và E. Sau đó để chế độ LOW hoặc HIGH, và kiểm tra xem 1 trong 2 dây W và E có dây nào thông với dây thứ ba hay không ?
Nếu có thông: CỤM CÔNG TẮC ĐIỀU KHIỂN loại dương chờ
[​IMG]
Nếu không thông: CỤM CÔNG TẮC ĐIỀU KHIỂN loại âm chờ
[​IMG]
- Xác định chân cụm công tắc điều khiển loại dương chờ:

Bước 1. Đây là cụm công tắc điều khiển loại dương chờ nên ta xác định được rõ chân W và chân E.

Bước 2. Để chế độ OFF: đo 2 dây thông nhau là -1 và S

Bước 3. Bỏ qua chế độ INT

Bước 4. Để chế độ LOW: Một trong 2 dây -1 và S sẽ thông với chân thứ 3, từ đó xác định được chân -1 và chân S.

Bước 5. Để chế độ HIGH: Chân E sẽ thông với 1 chân, chân đó sẽ là chân -2

Bước 6. Chân còn lại là chân B
- Xác định chân đối với cụm công tắc điều khiển loại âm chờ:
Bước 1. Đây là cụm công tắc điều khiển loại âm chờ, nên ta suy ra chân W và E. Dây W và E không được nhầm lẫn. vì khi mắc vào mạch sẽ có trường hợp
- Đối với cụm công tắc điều khiển loại âm chờ thì sẽ không xảy ra hiện tượng cháy, mà chỉ xảy ra hiện tượng chế độ INT không hoạt động. Về vấn đề này em cũng chưa hiểu rõ sao nó như vậy mong các cụ giúp chỉ vì em thường thấy như vậy nên em đưa ra ý kiến thôi:D:D:D
- Đối với cụm công tắc điều khiển loại dương chờ thì sẽ xảy ra hiện tượng cháy (cháy sẽ xảy ra khi bật chế độ INT) 

Bước 2. Để chế độ OFF: đo 2 dây thông nhau là +1 và S

Bước 3. Bỏ qua chế độ INT

Bước 4. Để chế độ LOW: Một trong 2 dây +1 và S sẽ thông với chân thứ 3, từ đó xác định được chân +1 và chân S. Còn chân thứ 3 là chân B

Bước 5. Để chế độ HIGH: chân B thông với 1 chân, chân đó là chân +2
Cách xác định mô tơ là âm chờ hay dương chờ
Cách xác định mô tơ gạt nước loại âm chờ hay dương chờ: Quay mô tơ của "mô tơ gạt nước" theo 1 chiều duy nhất để xác định (không được chuyển hướng quay "ngược lại" trong lúc đo đồng hồ VOM, vì như thế sẽ không có tác dụng. Nếu lỡ lố qua tua vòng, thì tiếp tục quay cho đến khi gặp lại điểm dừng)
- Quy mô tơ về điểm dừng và xác định 2 dây thông nhau tại điểm dừng
- Tại điểm dừng này lấy 2 dây đo lần lượt với mass vỏ máy. Nếu như thông với mass vỏ máy thì suy ra là mô tơ gạt nướcloại âm chờ, còn ngược lại thì là mô tơ gạt nước loại dương chờ.
Có cách nhìn vào dây của mô tơ mà lên tìm hình không có hình chụp dây của mô tơ nên không làm được:mad::mad::mad:
Trường hợp nên để ý 
Mô tơ quay không dừng:
+ Do tuôn nhông, nên mô tơ cứ quay trong khi nhông thì lại không được đẩy đi vì tuôn nhông
+ Hoặc do nắp đậy nhông bị bong lên làm nhông bung lên ko tiếp xúc với cốt mô tơ được
+ Trong 2 nguyên nhân trên dù là nguyên nhân nào thì cũng đều làm mô tơ quay liên tục, khiến mô tơ quay miết trong khi "đĩa đồng" thì không được trả về vị trí ban đầu, làm cho mô tơ quay miết. Đương nhiên là "đĩa đồng" phải luôn dính vô các thanh đồng dẫn điện (chân S, chân thông ít, chân thông nhiều) (vì nếu không dính thì mô tơ lấy điện đâu mà quay):p:p
[​IMG]
[​IMG]
Về độ chế khi mất tính năng trả tự động khi tắt em chưa thử nghiệm nên không post.
Trên 1 số xe tải Huynh đai công tắc chỉ có chức năng bật low, high, washer nó không được tích hợp chế độ trả về vị trí ban đầu. Nên những xe này thường dùng mô tơ dương chờ và khiển mô tơ bằng tín hiệu mass. Để mắc em hay sử dụng 2 rơ le 5 chân và cách mắc như hình
[​IMG]


Đọc thêm